Hex’s Newsletter

Hex’s Newsletter

Về affection. Sự cảm mến.

Những thứ bạn có affection là những thứ bạn đã cho phép chạm vào mình. Đó gần như là danh sách trung thực nhất về việc bạn đã thật sự dành cuộc đời mình ở đâu.

Hex's avatar
Hex
Jul 13, 2026
∙ Paid

Sau hai mươi năm lênh đênh, Odysseus trở về Ithaca trong lốt một lão ăn mày. Nữ thần Athena đã phủ lên chàng lớp cải trang hoàn hảo đến mức vợ chàng không nhận ra, con trai chàng không nhận ra, đám người cầu hôn đang phá tán gia sản chàng cũng không mảy may nghi ngờ. Chỉ có một sinh vật trong toàn cõi Ithaca nhận ra chàng ngay lập tức: con chó già Argos, con chó chàng đã tự tay nuôi từ khi nó còn là một con cún, trước khi ra trận. Giờ nó nằm trên một đống phân trước cổng, ghẻ lở, đầy bọ chét, già đến mức không ai buồn chăm. Nghe hơi chủ, nó ngẩng đầu, dỏng tai, cố vẫy cái đuôi. Nhưng không còn đủ sức bò lại gần. Odysseus, để giữ kín thân phận, phải quay mặt giấu một giọt nước mắt. Và ngay khoảnh khắc ấy, Homer viết, con Argos chết, sau khi được thấy lại chủ nhân mình một lần nữa sau hai mươi năm.

Chúng ta có một chữ cho cái ham muốn kéo hai người xa lạ về phía nhau, và một chữ khác cho thứ tình bằng hữu ta chọn lấy bằng sự cân nhắc. Nhưng điều chú chó Argos mang theo suốt hai thập kỷ không phải ham muốn, cũng không phải một lựa chọn.

1. Thứ tình cảm không cần người xứng đáng

Người Hy Lạp cổ, vốn tỉ mỉ với những gì họ cho là quan trọng, không gộp mọi thứ ta gọi là “yêu” vào một chữ. Họ tách chúng ra thành nhiều khái niệm. Eros - cái tình của ham muốn, của khao khát chiếm giữ; tách khỏi philia, cái tình bằng hữu dựng trên sự quý trọng và lựa chọn; và cả hai tách khỏi agape - tình yêu vô điều kiện, thứ tình do ý chí, thứ ta ban ra vì nguyên tắc chứ không vì đối tượng là ai. Nhưng có một chữ thứ tư, khiêm tốn hơn hẳn: storge. Storge là thứ tình của cái quen thuộc - tình thương cha mẹ dành cho con, cảm mến ta dành cho một nơi chốn, một con vật, một khuôn mặt đã ở bên ta đủ lâu. C.S. Lewis, trong quyển sách nhỏ ông viết cuối đời về bốn thứ tình này, gọi storge là loại tình hèn mọn nhất và lan tỏa nhất, thứ tình chẳng làm ra vẻ gì, thứ nảy lên lặng lẽ từ sự hiện diện liên tục.

File:Hugues Merle - Maternal Affection.jpg

Chỗ đặc biệt của storge nằm ở chỗ nó không đòi đối tượng phải xứng đáng. Eros cần một sức hút; philia cần một sự cân nhắc - bạn kết thân với người này bởi bạn quý điều gì đó ở họ. Storge thì không xét gì cả. Tình cảm này không đặt điều kiện xem cái ly kia có đẹp không, người kia có giỏi không, nơi chốn ấy có đáng sống không. Nó được hình thành từ số ngày gần gũi. Đó là lý do bạn có thể đứng lặng lâu hơn mình tưởng trước một cái ly sứt mẻ, tróc gần hết hình in, một cái ly bạn sẽ chẳng quan tâm nếu giờ có người bán hay cho bạn. Nhưng nó đã ở trên bàn bạn suốt bao nhiêu buổi sáng, và chừng đó là đủ. Đó là lý do người ta giữ lại những thứ vô dụng, quay lại những nơi tồi tàn, và thương những con người mà, nếu gặp lần đầu hôm nay, hẳn họ đã chẳng chọn.

Chữ ta mượn từ tiếng Latin để gọi thứ tình này - affection - mang trong nó một manh mối mà bản dịch tiếng Việt không làm rõ. Affection đến từ afficere, nghĩa gốc là bị tác động, bị làm cho khác đi. Nó là một từ bị động. Bạn không “làm” affection theo cách bạn theo đuổi một ham muốn hay quyết định một tình bạn; affection là thứ đọng lại trong bạn sau khi một điều gì đó đã tác động lên bạn qua thời gian. Người ta rơi vào tình yêu. Nó như một biến cố, chớp nhoáng, gần như xảy đến với bạn từ bên ngoài trong khoảnh khắc. Nhưng affection thì có tính chất bồi tụ. Nó là lớp trầm tích để lại sau hàng nghìn lần tiếp xúc nhỏ mà không lần nào trong số đó đủ lớn để bạn để ý. Chính vì nó bị động như thế, ta gần như không bao giờ bắt gặp mình đang chọn nó. Ta chỉ phát hiện ra, muộn màng, rằng nó đã xảy ra rồi.

Nghịch lý của storge, rằng thứ tình hèn mọn nhất lại là thứ tình nặng nhất, hiện rõ ở chính Odysseus. Trên đảo của nữ thần Calypso, chàng được đề nghị một món quà không phàm nhân nào từng được chào mời: sự bất tử, và tuổi trẻ vĩnh viễn, đổi lấy việc ở lại. Chàng từ chối. Chàng chọn quay về với một người vợ đang già đi, một hòn đảo đá cằn cỗi, một mái nhà bình thường. Odysseus chọn cái quen-thuộc-sẽ-mất thay vì cái hoàn-hảo-không-bao-giờ-mất. Homer để chàng ngồi khóc trên bờ biển của thiên đường, ngoảnh mặt về phía làn khói bốc lên từ quê nhà. Đó là chân dung chính xác của affection: nó không phải thứ đẹp nhất, không phải thứ toàn vẹn nhất, mà là thứ ta đã sống cùng đủ lâu để không đánh đổi được nữa.

Ovid, trong Metamorphoses, kể về một đôi vợ chồng già nghèo khó, Baucis và Philemon. Họ đã tiếp đãi hai vị thần cải trang thành khách lữ hành sau khi cả một ngôi làng giàu có đóng cửa với họ. Khi được ban một điều ước, họ không xin của cải hay tuổi trẻ. Họ xin được chết cùng một lúc, để không ai trong hai người phải ở lại chịu tang người kia. Các vị thần biến họ thành hai cái cây mọc chung một gốc, một cây sồi và một cây đoạn, cành lá quấn vào nhau. Điều đôi già ấy sợ không phải cái chết, mà việc phải sống lâu hơn sự hiện diện của người đã trở thành một phần của chính mình. Affection, khi đủ già, không chỉ là khao khát được ở bên ai đó, mà là nỗi kinh hãi khi phải ở lại mà thiếu họ.

Ngay cả Iliad, thiên anh hùng ca của giận dữ và vinh quang, cũng dừng lại một lần để nhìn vào affection. Ở cổng thành Scaean, trước khi ra trận, Hector đưa tay bế đứa con thơ, nhưng đứa bé khóc thét, hoảng sợ trước chùm lông ngựa dập dờn trên mũ giáp của cha. Hector bật cười, tháo mũ xuống đặt trên mặt đất, rồi mới bế con lên hôn. Trong một bản trường ca mà mọi người đàn ông đều đang đuổi cái tên họ sẽ để lại sau khi chết, khoảnh khắc được khắc sâu nhất lại là một người cha cởi bỏ chiến tranh khỏi đầu mình để đứa con hết sợ. Cả một nền văn minh dựng trên vinh quang, vậy mà nó vẫn thấy thứ đáng ghi lại nhất là một cử chỉ của storge.

Có một cuốn sách còn lại từ cổ đại thậm chí gần như chỉ là một bản kê khai của affection. Marcus Aurelius, hoàng đế của cả một đế chế, mở đầu tập Meditations không phải bằng chiến lược hay triết lý cai trị, mà bằng một danh sách những gì ông mang ơn từng người thân và người thầy: từ ông mình, ông học được sự điềm tĩnh; từ mẹ mình, lòng mộ đạo và sự rộng lượng; từ người này, cách không nổi giận; từ người kia, cách chịu đựng. Người quyền lực nhất thế giới thời bấy giờ, khi ngồi xuống viết cho riêng mình, đã dành những trang đầu tiên để đếm lại những sự hiện diện đã nặn ra mình. Đó là điều affection làm với ký ức. Nó không lưu giữ những đỉnh cao, nó lưu giữ những người đã ở trong cuộc đời bạn đủ lâu để tạo nên bạn.

2. Vì sao sự quen lại hóa thành sự thương

Nếu storge chỉ cần một thứ, là thời gian ở gần, thì chuyện gì xảy ra bên trong ta khiến việc ở-gần đơn thuần biến thành sự thương? Đây là chỗ tâm lý học có một câu trả lời gọn đến mức gần như xúc phạm sự lãng mạn của vấn đề. Cuối những năm 1960, nhà tâm lý học Robert Zajonc cho người ta xem những thứ hoàn toàn vô nghĩa - những ký tự lạ, những khuôn mặt xa lạ, những từ bịa - rồi lặp lại chúng nhiều lần. Ông phát hiện rằng chỉ riêng việc nhìn thấy một thứ nhiều lần, không thêm bất kỳ điều gì khác, đã đủ khiến người ta ưa nó hơn. Không cần nó đẹp hơn, không cần nó có ích hơn. Chỉ cần quen. Hiệu ứng này - mere-exposure - là cái lõi trần trụi của “quen thì thương”.

Từ đầu những năm 1950, một nhóm nhà nghiên cứu theo dõi các sinh viên sống trong một khu nhà ở, cố tìm xem điều gì quyết định ai kết thân với ai. Không phải sự tương đồng về tính cách, không phải chung sở thích, mà là một thứ tầm thường hơn nhiều: khoảng cách vật lý. Người ta thân với người ở cạnh cửa, ở cùng tầng, ở gần chân cầu thang - thân với những người mà đường đi hằng ngày của họ vô tình cắt qua nhiều lần nhất. Các nhà nghiên cứu gọi đó là hiệu ứng propinquity. Rất nhiều mối thân thiết của đời ta không được ta chọn vì phẩm chất của người kia, mà được quyết định bởi việc ai tình cờ ở trong tầm với của ta đủ thường xuyên.

User's avatar

Continue reading this post for free, courtesy of Hex.

Or purchase a paid subscription.
© 2026 Hex · Privacy ∙ Terms ∙ Collection notice
Start your SubstackGet the app
Substack is the home for great culture